Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014
Bí ẩn tục cởi áo để lại khi heo rừng dính bẫy
Cả làng cùng đi săn Do địa thế thuận tiện, phía sau núi dựng, trước mặt là sông nên heo rừng sinh sống ở đây rất nhiều. Theo những cao niên nơi đây cho biết, thời kỳ chống Pháp, khu vực này ít bị chiến tranh tàn phá nên là nơi tụ hội của heo rừng, chúng đi thành đàn gần mấy chục con di chuyển từ vách núi ra sông uống nước. Trên đường đi, chúng phá sạch hoa màu người dân. Lúc đó làng Đại Bình có ít cư dân sinh sống, thấy heo xuất hiện và phá hết mùa màng, dân làng đã bàn luận và đồ mưu hoạch truy đuổi và tận diệt. Tại đây, chúng tôi được ông Ngô Bốn (83 tuổi) kể lại những chuyến săn đầy nguy hiểm nhưng mang tính cộng đồng cao. Ông Bốn cho biết, những năm đầu thế kỷ 20, cả làng cùng nhau đi săn bắt heo rừng, mỗi nhà đều có một người, hoặc cả cha con nên đoàn người lên đến hàng chục người từ thanh niên, nông dân, hay bất cứ ai, hễ rãnh là lên núi cùng đi săn. Ban đầu họ chỉ đào những hố sâu gần 2m, sau đó ủ những nhánh cây và rải thức ăn lên trên để dẫn dụ heo rừng sụp bẫy. Có nhiều hố những thợ bẫy còn đặt chông bên dưới, khi rơi xuống, heo rừng sẽ chết và họ dễ mang về nhà. Ông Bốn cho biết làng Đại Bình xưa gồm có 3 xứ là Dũng Chuối Xứ, Ngọn Nước xứ và Bằng Lăng xứ, trong đó heo rừng tập trung nhiều nhất ở vùng Hố Chuối ở khu vực Ngọn Nước xứ. Thời đó heo rừng ở đây nhiều vô kể, mùa săn heo rừng chủ yếu vào tháng Chạp đến tháng Giêng, đây là thời khắc nhiều heo rừng nhất, dân làng trồng khoai, sắn ở bìa rừng bị chúng phá sạch. Vợ chồng ông Ngô Bốn vẫn chưa quên những ngày cả làng Đại Bình cùng săn heo rừng. Sau những lần bị sập hố, những con heo rừng càng trở nên nhóc con hơn, chúng không bao giờ bị sập nữa. Nên cả làng lại phải rủ nhau lên núi để thực hành những cuộc truy bắt. Bộ công cụ đi săn của họ gồm lưới, giáo và chó săn, để có được bộ phương tiện này người dân nơi đây phải bỏ ra khoảng tiền tương đối lớn so với thu nhập ít ỏi của họ. Tay lưới săn heo dài đến 150m, rộng 3m được giăng tại những vị trí thuận tiện để dồn những con heo vào một góc, khi bị thúc ép, những con heo tông thẳng vào khiến lưới sập và quấn lấy nó, sau đó những thợ săn sẽ dùng giáo đâm vào những chỗ hiểm của heo rừng. Bên cạnh công sức những thợ săn bỏ ra, việc truy đuổi của những chú chó săn là đặc biệt quan trọng. Cũng giống như những chú khuyển ở đảo Phú Quốc, những chú chó ở đây được chọn cũng rất công phu, chúng phải là những con chó có máu mặt, tai nhỏ và sức rướn, biết đánh hơi và theo sát con mồi. Những chú chó được chọn thường là chó nhà phú nông, hoặc tầng lớp trung lưu thường bị xiềng xích để tạo tính hung hãn và khôn lanh. Đã hội đủ 3 nguyên tố này nên không chỉ đến mùa mới săn heo mà bất kỳ khi nào thấy heo rừng xuất hiện nhiều thì cả làng, mỗi người huấn luyện một chó săn cùng vác giáo đi truy đuổi. Những cụ bà ở đây vẫn chưa quên được những ngày cả làng đi săn khi mang về làng cùng lúc đến 6, 7 con heo rừng. Bà Lê Thị Bảy (78 tuổi) bật mí: “Hồi đó những tiếng hò reo rộn khắp núi rừng khiến bất cứ sinh vật nào cũng khiếp sợ, chó săn liên tiếp thúc dục, tiên nhân chúng tôi mang về những con heo lớn, khi đó cả làng cùng đến ăn chơi, mừng với nhau. Cởi áo làm tin khi heo rừng dính bẫy Một phong tục kỳ lạ của những thợ săn năm xưa là khi phát hiện heo rừng mắc bẫy, nếu muốn về gọi thêm người lên khiêng heo về thì thợ săn ấy phải cởi áo, hoặc bỏ chiếc mũ xuống ngay tại đó. Nếu không làm như vậy khi quay lại heo sẽ biến mất. Giải mã phong tục kỳ lạ này, ông Trần Trâm (90 tuổi), một thợ săn từng chinh chiến lâu năm vẫn sáng láng cho chúng tôi hay: “Đó là tục tĩu có thật, trước kia nhiều thợ săn phát hiện heo rừng bị sập bẫy hố (kể cả đã chết) nhưng sau khi gọi thêm người lên thì không còn thấy heo đâu nữa, họ tin là heo rừng đã bị đần lấy đi, từ đó khi phát hiện heo dính bẫy, muốn gọi người khác lên khiêng về phải để lại vật gì đó gọi là đánh dấu con vật đó là của mình. Ông Trâm cho rằng, khi đi săn luôn có người giấu mặt theo sau mình ở bất cứ đâu, nhiều khi họ cản không cho thợ săn bắt heo rừng. Nhiều người dân khác cũng tin rằng, khi phát hiện heo nhưng một mình không mang về nổi, cứ thể bỏ về gọi thêm người thì dốt cho rằng những thợ săn đã bỏ không lấy heo nên thánh thần đưa về núi, hoặc có thế giới người âm tồn tại đồng thời và mang heo đi để về chia thịt như người trần thường nhật. Thô lỗ tưởng như hoang đường đó lại là điều các cố lão trong làng khẳng định, nhiều trường hợp khi phát hiện heo chết dưới hố bẫy, nhưng thợ săn quyết đâm vài nhát nữa cho chắc nhưng không để lại vật làm tin nên khi quay về dẫn người lên thì không thấy heo đâu nữa, họ cho rằng con ma rừng đã giấu mất heo. Bởi vậy khi đưa heo về làng họ phải làm lễ cúng tạ độn và cô bác tiền hiền, sau đó cho những chú chó săn ăn trước rồi mọi người mới được chia vui. Thực tế trên khu vực này vẫn thẳng tắp có hổ xuất hiện nhưng người dân không cho rằng chính những con hổ đã ăn thịt mà là do thế giới bên kia bắt đi, họ cũng cho rằng ghế dẫn đường chỉ lối, cho bắt heo mới được bắt. Bởi lẽ một đám khoai, đàn heo rừng đã ăn gần hết chỉ còn một khoảng nhỏ ở giữa, những thợ săn liền đưa bẫy đến đây nghĩ kiên cố sẽ bắt được heo, nhưng heo rừng lại ăn quanh rồi chừa cái bẫy lại. Chính điều này họ cho rằng săn heo phải được sự cho phép của khờ, thành ra trước lúc đi săn, dân làng thường cúng vái, cầu nguyện trước nhất để bản thân được an toàn và bắt được nhiều heo rừng. Thời bấy giờ, ông Thủ Bộ được mệnh danh là thủ lĩnh tài ba của những cuộc truy lùng. Về sau, con ông là Trần Kim Vạn và Trần Kim Châu cũng là những nghệ nhân săn heo lừng danh. Dàn trận xong, ông Bộ chia người ra từng tốp và giăng lưới. Sau đó, ông bắt đầu thả chó săn khiến heo rừng khiếp vía. Tại lưới, ông chia 2 người đến gác lưới, đó là người có kinh nghiệm và bản lĩnh để thực hiện đâm heo. Người đứng đầu lưới gọi là giáo nhứt và cuối lưới là giáo nhì. Tay lưới cũ vẫn được giữ như một vật khôn thiêng. Sau khi heo rừng chui sập lưới, giáo nhứt phải đâm trúng ngay yết hầu của con heo, nếu heo vẫn còn sức chạy và mang giáo đi, giáo nhì phải ngay lập tức đâm trúng vào sườn trước khiến heo liệt tại chỗ và cuộc săn heo rừng chấm dứt mĩ mãn. Thế nhưng không phải lúc nào cuộc săn cũng gặp tiện lợi như thế, nhiều khi heo không được ăn nhưng phải chôn những chú chó săn cưng của mình. Đó là trường hợp những con chó quá liều lĩnh khi tiến công trực tiếp vào heo rừng và bị nó dùng nanh đánh gục. Ở làng khi đó còn có ông Dững, một người to lớn và cũng là một thợ săn rất giỏi, một mình ông truy đuổi theo một con heo rừng to lớn lên đến hơn 1 tạ, tấn được vào góc, ông Dững phóng giáo vào sườn trước heo và ghì khôn xiết mạnh ép vào mép đá, bị thương nhưng quá khỏe, heo rừng vọt lên và tấn công lại khiến ông phải bỏ chạy, sau khi mang giáo ví theo ông Dững, heo rừng này gặp một con trâu và dùng nanh húc vào cổ khiến con trâu này bật ngay tại chỗ, rồi mang giáo chạy lên núi cao mới chịu chết. Còn một cuộc săn khiến dân làng nơi đây không bao giờ quên mang tên ông Phạm Sanh. Sau khi đâm nhác giáo trước tiên, heo rừng liền quật gẫy giáo và tiến công lại, lấy hết sức mình ông Sanh cầm lấy 2 tai và vật lộn với nó song song kêu người đến bắt heo, ông liên tiếp đấm vào đầu heo, lắc giáo khiến heo kiệt sức, nhưng nó cũng đủ gượng lại để cắn đứt lìa 3 ngón tay ông. Sau đó một người đi săn đã kịp tới và tiếp thêm nhát giáo, 2 người khiên con heo to lớn về trong sự thán phục của dân làng. Vẫn còn nhiều dấu vết còn lưu lại Ông Trần Kim Hùng, trưởng thôn Đại Bình (xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) cho biết, nghề săn heo rừng từ bao đời đã gắn bó với ngời dân nơi đây. Hiện vẫn còn rất nhiều hố bẫy ở vùng núi khu vực này. Việc cởi áo làm tin khi heo rừng sập bẫy là vấn đề linh tính vẫn được người xưa nhắc lại đến bây giờ. Theo ĐSPL
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.